CÔNG NGHỆ BLOCKCHAIN

CÔNG NGHỆ BLOCKCHAIN

Bạn có nhận thấy hiện nay chúng ta đang giữ và sử dụng ít tiền mặt hơn không? Tại sao lại giữ nhiều tiền mặt khi việc lưu trữ tiền trong tài khoản ngân hàng hay giao dịch trực tiếp thông qua các hình thức thanh toán không tiền mặt trở nên cực kì dễ dàng và tiện lợi cơ chứ. Điều này lại hợp lý với việc giữ hay giao dịch lượng tiền lớn ở quy mô tổ chức hay doanh nghiệp. Các ngân hàng từ lâu cũng đã phát triển hệ thống có chức năng như 1 chiếc “sổ cái” để ghi nhận, theo dõi và kiểm tra hoạt động giao dịch ấy. Có thể nói toàn bộ quy trình trên hoạt động với cơ chế “tập trung” và trung tâm là 1 bên trung gian thứ ba (tiêu biểu là ngân hàng), ở đó chúng ta cho họ quyền quản lý tiền, hoạt động giao dịch hay cả dòng tiền của nền kinh tế. Tuy vậy cơ chế này có nhiều rủi ro như hệ thống bị lỗi, có lỗ hổng có thể tận dụng để trục lợi, ngân hàng thua lỗ, phá sản dẫn đến những hậu quả tồi tệ hơn như: in thêm tiền để cứu vãn tình hình, lạm phát gia tăng, … Câu chuyện đổi tiền ở Ấn Độ (2016) là 1 ví dụ điển hình cho việc tập trung quyền lực quản lý chính sách tiền tệ vào một bên thứ ba để rồi họ đưa ra những quyết định sai lầm dẫn đến khủng hoảng kinh tế quy mô quốc gia. Chính vì thế khi Bitcoin – một đồng tiền mã hóa được giới thiệu (2009) với công nghệ cho phép quản lý và giao dịch bằng cơ chế “phi tập trung” đã thu hút được sự chú ý cực lớn trên toàn cầu. Đó chính là công nghệ chuỗi khối (Blockchain).

BLOCKCHAIN HOẠT ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO?

Blockchain yêu cầu một mạng các máy tính liên kết ngang hàng P2P – peer to peer, mỗi cá thể tham gia được gọi là 1 nút mạng (Node) có thẩm quyền ngang nhau, không hạn chế các cá thể mới tham gia vào mạng. Có một vấn đề khi giao dịch trong mạng máy tính, lấy ví dụ về giao dịch dùng tiền, ở đây tiền không phải 1 dạng vật chất, mà được đại diện bởi 1 file điện tử hoặc 1 token, điều gì sẽ xảy ra nếu ta copy ra nhiều “file tiền”, tăng số dư trong tài khoản và sử dụng chúng cho các giao dịch. Đây được gọi “Double spending problem” .

Vì thế trong mạng lưới truyền thông ấy công khối nghệ chuỗi khối hoạt động như chiếc “sổ cái phân tán” (Distributed Ledger) với cơ chế phi tập trung. Những thông tin dữ liệu trong sổ cái thay vì được quản lý bởi 1 bên thứ 3, thì nay được chia sẻ với tất cả mọi người, tức ai cũng sở hữu 1 bản sao của sổ cái để theo dõi, kiểm tra tính hợp pháp của các giao dịch. Để gian lận, ta sẽ cần thay đổi dữ liệu ở tất cả sổ cái trong mạng và điều này gần như là không thể.

Đó vẫn chưa là điều đặc biệt nhất của công nghệ này. Khi 1 giao dịch phát sinh, Blockchain sẽ lưu trữ thông tin của giao dịch vào 1 khối (block), mỗi khối có thể ví như 1 trang của sổ cái liên kết với các khối chứa thông tin của các giao dịch trước tạo thành 1 chuỗi (chain). Để 1 khối mới được liên kết vào chuỗi, đầu tiên các dữ liệu trong khối sẽ được mã hóa và khóa lại, các khóa này được gọi là Blockhash. Blockhash của mỗi block là duy nhất có thể xem như dấu vân tay của một block có nhiều hình thức để khóa block ví dụ như đặt 1 mật mã ( Bitcoin), đưa ra một số điều kiện cần thỏa mãn (Hợp đồng thông minh, Ethereum),….  Sau khi giải mã được Blockhash, dữ liệu trong block được chia sẻ khắp mạng máy tính, mọi người trong máy tính sẽ kiểm tra thông tin trong block, đối chiếu với sổ cái. Việc xác nhận thông tin của block thực hiện sẽ hoạt động trên cơ chế đồng thuận (Consensus algorithm), nếu phần đông người trong mạng lưới xác nhận giao dịch là hợp lệ, giao dịch sẽ được thực hiện, Blockhash của block sẽ liên kết với blockhash của block trước tự đó thêm block mới vào chuỗi (thông tin được cập nhật vào sổ cái mỗi người). Chính Blockhash là thứ tạo nên tính bảo mật, an toàn cho công nghệ chuỗi khối, một khi đã được thêm vào chuỗi, mỗi khối sẽ chứa thông tin đã được xác thực, đồng bộ với cổ cái, 1 blockhash độc nhất, 1 liên kết với blockhash của khối liền trước. Muốn thay dữ liệu ở 1 khối ta phải thay dữ liệu của tất cả các khối được liên kết trước đó, mỗi khối lại có 1 blockhash bảo mật, vì vậy can thiệp vào dữ liệu trong chuỗi khối dường như là bất khả thi.

Việc giải mã Blockhash, xác thực tính hợp lệ, đảm bảo các thông tin mới được thêm vào chuỗi (hay sổ cái) là hợp lý, minh bạch trên thực tế không đơn giản, việc này tiêu tốn một lượng tài nguyên máy tính. Quá trình này được gọi là Mining – thứ mà chúng ta hay thường được nghe là “đào coin”. Để thưởng cho những người thực hiện Mining (Miner) hay “tuýt còi” những kẻ cố định thực hiện các giao dịch không hợp lệ, những mạng máy tính sử dụng công nghệ chuỗi khối đều có các cơ chế thưởng phạt riêng. Đối với mạng trao đổi Bitcoin, các Miner sẽ nhận 1 lượng Bitcoin sau khi hoàn thành Mining; Khối chứa những giao dịch không hợp lệ sẽ bị khóa hoàn toàn, đồng nghĩa lượng tiền để thực hiện giao dịch cũng vô hiệu. Nhìn chung mỗi với những mạng máy tính ngang hàng như thế này, quyền lực cũng được “phi tập trung hóa” những quy định, điều lệ chỉ cần được số đông đồng ý đều trở thành luật của mạng lưới, chính vì vậy vẫn còn nhiều tranh cãi về ứng dụng công nghệ chuỗi khối.

BLOCKCHAIN ĐƯỢC ÁP DỤNG TRONG THỰC TẾ NHƯ THẾ NÀO?

Ngày nay, công nghệ chuỗi khối được áp dụng trong nhiều lĩnh vực như: y tế ( EMR- Hồ sơ bệnh án điện tử), Marketing (eKYC), truyền thông giải trí (NTF- Non-fungible token, Ujo Music),… Tuy nhiên bạn có biết blockchain thực chất đã ra đời từ năm 1991 nhưng đến tận năm 2009 mới có 1 sản phẩm ứng dụng công nghệ này gây được tiếng vang và sự ảnh hưởng tới thế giới là đồng tiền mã hóa Bitcoin. Thực tế cũng cho thấy các ngành liên quan đến tiền tệ hay tài chính-ngân hàng nói chung có dư địa rất lớn để ứng dụng công nghệ này.

 Ví dụ như hiện nay việc mua bán xuất-nhập khẩu giữa các công ty ở 2 nước khác nhau thường được ngân hàng đứng ra làm trung gian, quá trình này diễn ra với rất nhiều công đoạn, tốn thời gian; việc sử dụng “hợp đồng thông minh” có thể lược giảm sự rườm rà, tăng hiệu quả của giao dịch. Hợp đồng thông minh có thể hiểu đơn giản là tập hợp những câu điều kiện nếu – thì (if – then), hợp đồng sau được tạo sẽ được mã hóa khóa lại, nếu thỏa mãn các điều khoản trong hợp đồng thì block sẽ được mở khóa, các lệnh của hợp đồng sẽ được thực thi, thông tin được lưu vào chuỗi khối.

Một quy trình mua bán xuất nhập khẩu có áp dụng hợp đồng thông minh sẽ diễn ra như sau: 

  1. Thỏa thuận giữa 2 công ty được gửi đến ngân hàng xuất khẩu -> Ngân hàng xuất khẩu xem xét các điều khoản, phương thức thanh toán và khởi tạo hợp đồng thông minh, sau đó gửi qua ngân hàng nhập khẩu bằng mạng truyền thông
  2. Ngân hàng nhập khẩu xem xét và tiến hành thực hiện lập hợp đồng chính thức
  3. Công ty nhập khẩu ký xác nhận bằng chữ ký số trên hợp đồng, quá trình vận chuyển được bắt đầu
  4. Một đơn vị được thuê ngoài để kiểm tra hàng nếu hàng đạt các yêu cầu họ xác nhận lên hợp đồng, quá trình vận chuyển ra nước ngoài mới được thực hiện 
  5. Khi nhận được hàng, công ty nhập khẩu xác nhận hoàn thành giao dịch trên hợp đồng thông minh, tiền tự động chuyển từ tài khoản công ty xuất khẩu sang công ty nhập khẩu .

Cơ chế này có thể được áp dụng tương tự cho các hoạt động khác trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng như nộp thuế, cho vay, giao dịch chứng khoán,… điều quan trọng cũng như khó khăn nhất trong việc lập hợp đồng thông minh là quản lí các điều khoản và mệnh lệnh được tự động hóa trong hợp đồng, kiểm soát những kịch bản “nếu” có thể xảy ra, và các mệnh lệnh “thì” phù hợp cho từng kịch bản ấy.

Nguồn:

https://www.investopedia.com/terms/b/blockchain.asp

https://www.investopedia.com/tech/how-does-bitcoin-mining-work/

error: Content is protected !!